Quay trở lại danh sách
Tuyên truyền- phổ biến pháp luật

QUY ĐỊNH MỚI VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XỬ LÝ CÁC VỤ ÁN VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 29/2026/QH16

23/10/2026

Ngày 08/10/2026, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC quy định trình tự, thủ tục tố tụng và quan hệ phối hợp trong giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân theo quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/10/2026.

Việc ban hành Thông tư liên tịch nhằm cụ thể hóa cơ chế, chính sách đặc thù trong xử lý vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực; đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án tồn đọng, kéo dài.

Dưới đây là một số nội dung đáng chú ý của Thông tư liên tịch.

1. Quy định cụ thể việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù trong xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Theo Điều 2 , Thông tư liên tịch quy định nguyên tắc thực hiện, trình tự, thủ tục tố tụng và quan hệ phối hợp trong giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố để xem xét áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù quy định tại các điều 5, 6, 7 và 8 Nghị quyết số 29/2026/QH16.

Các cơ chế, chính sách đặc thù được hướng dẫn bao gồm:

- Không truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Miễn trách nhiệm hình sự;

- Không khởi tố vụ án hình sự;

- Tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

- Tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án;

- Tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra đối với bị can.

Đối với giai đoạn xét xử và thi hành án hình sự, việc áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù được thực hiện theo Nghị quyết số 29/2026/QH16, Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật về thi hành án hình sự và Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP ngày 18/8/2026 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

2. Áp dụng chính sách đặc thù phải đúng đối tượng, điều kiện và không được lợi dụng để trốn tránh trách nhiệm pháp lý

Điều 2 Thông tư liên tịch nhấn mạnh việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù phải tuân thủ đúng nguyên tắc quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 29/2026/QH16.

Nghiêm cấm lợi dụng việc áp dụng các quy định đặc thù để bao che hành vi vi phạm, hợp pháp hóa sai phạm, trốn tránh trách nhiệm pháp lý hoặc trục lợi chính sách.

Đáng chú ý, việc xem xét áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù phải gắn với yêu cầu xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ra vi phạm; giải quyết khó khăn, vướng mắc của dự án, công trình; bảo đảm khắc phục hậu quả thiệt hại và không làm đình trệ việc tiếp tục thực hiện, hoàn thành, khai thác, sử dụng dự án, công trình khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội trong cùng vụ việc, vụ án nhưng chỉ có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 29/2026/QH16 thì cơ chế, chính sách đặc thù chỉ được áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai đó.

3. Quy định về căn cứ, tài liệu phục vụ việc xem xét áp dụng chính sách đặc thù

Theo Điều 3 Thông tư liên tịch, việc xem xét áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù phải dựa trên văn bản, kết luận của cơ quan có thẩm quyền cùng các tài liệu, chứng cứ được thu thập, kiểm tra, xác minh theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Các nội dung cần được xác định, đánh giá bao gồm:

- Vụ việc, vụ án vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước ngày 01/8/2024 nhưng không tham nhũng; trường hợp có nhiều hành vi vi phạm phải xác định rõ hành vi vi phạm pháp luật về đất đai không phải là hành vi tham nhũng.

- Việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về đất đai có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước hay không; nếu có thì phải xác định cụ thể giá trị thiệt hại.

- Hiệu quả kinh tế - xã hội, việc bảo đảm quốc phòng, an ninh của dự án, công trình đã triển khai.

- Khả năng, phương án và điều kiện khắc phục hậu quả thiệt hại.

- Kết quả, mức độ khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra.

- Tình trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với trường hợp xem xét áp dụng cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, hồ sơ còn phải có các tài liệu liên quan đến phương án khắc phục hậu quả, cam kết thực hiện, khả năng tiếp tục triển khai dự án, công trình và kết quả thực hiện phương án khắc phục.

Các tài liệu này phải được lập, ban hành hoặc cung cấp đúng thẩm quyền, bảo đảm tính chính xác, đầy đủ và hợp pháp.

4. Làm rõ trình tự, thủ tục xem xét áp dụng cơ chế không truy cứu, miễn và tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự

Chương II Thông tư liên tịch quy định cụ thể trình tự, thủ tục và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan có thẩm quyền.

Theo đó, trong quá trình giải quyết vụ việc, điều tra vụ án, khi có căn cứ xác định vụ việc, vụ án có dấu hiệu thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 29/2026/QH16, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành rà soát, thu thập, kiểm tra và đánh giá tài liệu để xác định điều kiện áp dụng chính sách đặc thù.

Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa đủ căn cứ, cơ quan có thẩm quyền tiếp tục xác minh, thu thập, bổ sung tài liệu hoặc thực hiện các hoạt động điều tra theo quy định.

Đối với cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, việc xem xét không chỉ căn cứ vào phương án khắc phục hậu quả thiệt hại mà còn phải đánh giá nội dung cam kết, tiến độ thực hiện, khả năng tiếp tục triển khai dự án và điều kiện hoàn thành việc khắc phục hậu quả.

Việc áp dụng cơ chế đặc thù phải được thể hiện trong hồ sơ vụ việc, vụ án và là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định tố tụng tương ứng.

5. Tăng cường theo dõi, kiểm tra việc khắc phục hậu quả trong thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự

Một nội dung đáng chú ý được quy định tại Điều 7 và Điều 9 Thông tư liên tịch là cơ chế theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện phương án khắc phục hậu quả thiệt hại.

Trong thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, tổ chức, cá nhân được áp dụng cơ chế này có trách nhiệm:

- Thực hiện đúng phương án và tiến độ đã cam kết; 

- Chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền;

- Báo cáo kết quả thực hiện và cung cấp tài liệu chứng minh việc khắc phục hậu quả theo yêu cầu.

Trường hợp không thực hiện, thực hiện không đúng tiến độ hoặc không đúng nội dung phương án đã cam kết mà không có lý do chính đáng, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét xử lý theo quy định.

Khi hết thời hạn tạm đình chỉ, kết quả và mức độ khắc phục hậu quả thiệt hại là căn cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc xử lý tiếp theo.

Như vậy, cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Việc áp dụng chính sách này gắn liền với trách nhiệm thực hiện đầy đủ các điều kiện và cam kết khắc phục hậu quả theo quy định.

6. Quy định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Thông tư liên tịch xác định trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc rà soát, xác minh, đánh giá điều kiện áp dụng chính sách đặc thù.

Trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý giải quyết vụ việc, điều tra vụ án chủ trì trao đổi bằng văn bản với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan. Cơ quan được đề nghị có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản và tài liệu có liên quan.

Việc phối hợp phải bảo đảm khách quan, công bằng, minh bạch, đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan và không làm thay đổi thẩm quyền, trách nhiệm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

7. Hiệu lực thi hành

Theo Điều 11, Thông tư liên tịch số 17/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/10/2026.

Thông tư cũng quy định điều khoản chuyển tiếp đối với các quyết định tố tụng đã được ban hành, các vụ việc, vụ án đang giải quyết và việc tiếp tục sử dụng hồ sơ, tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trước ngày Thông tư có hiệu lực.

Việc ban hành Thông tư liên tịch số 17/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý để triển khai thống nhất các cơ chế, chính sách đặc thù trong xử lý vi phạm pháp luật về đất đai theo Nghị quyết số 29/2026/QH16.

Các quy định mới thể hiện yêu cầu kết hợp giữa xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật với khắc phục hậu quả thiệt hại, tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, kéo dài; đồng thời đề cao trách nhiệm, tính minh bạch và sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án.

 

Phòng Pháp chế và Kiểm tra nội bộ