Quay trở lại danh sách
Tuyên truyền- phổ biến pháp luật

Nghị định số 334/2026/NĐ-CP: Tăng cường quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình và hiệu quả hoạt động của cơ sở giáo dục đại học

15/09/2026

Nhằm hoàn thiện thể chế về tự chủ và cơ chế tài chính trong giáo dục đại học, ngày 20/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 334/2026/NĐ-CP quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/10/2026. Nghị định được xây dựng nhằm hoàn thiện thể chế về tự chủ và cơ chế tài chính trong giao dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.

1. Những nguyên tắc quan trọng trong thực hiện quyền tự chủ

Theo Nghị định số 334/2026/NĐ-CP, quyền tự chủ của cơ sở giáo dục phải được thực hiện gắn với “trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch và bảo đảm chất lượng giáo dục”.

Đáng chú ý, ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được định hướng phân bổ dựa trên “sứ mạng, chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ sở giáo dục”.

Nhà nước ưu tiên đầu tư, hỗ trợ đối với các ngành, lĩnh vực ưu tiên, ngành chiến lược, khoa học cơ bản, công nghệ cao, công nghệ chiến lược, ngành nghề trọng điểm, những ngành khó thực hiện xã hội hóa và các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Việc thực hiện tự chủ đồng thời phải bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong tiếp cận chính sách, nguồn lực và cơ chế hỗ trợ của Nhà nước; không làm ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hóa dân tộc và phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người học.

Các nguyên tắc này khẳng định tự chủ không đồng nghĩa với “tự quyết không giới hạn”, mà là được trao quyền chủ động cao hơn đi đôi với trách nhiệm giải trình và trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả của các quyết định.

2. Cơ sở giáo dục đại học được tăng cường quyền tự chủ về hoạt động đào tạo

Nghị định quy định cơ sở giáo dục được thực hiện quyền tự chủ trong hoạt động giáo dục đại học gắn với trách nhiệm giải trình, bảo đảm chất lượng, công khai, minh bạch và chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền.

Trong xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, cơ sở giáo dục được chủ động:

* Quyết định xây dựng, phê duyệt chương trình đào tạo trong phạm vi pháp luật cho phép;

* Quyết định chuẩn đầu ra, cấu trúc và nội dung chương trình;

* Quyết định phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập;

* Biên soạn, lựa chọn và sử dụng giáo trình, học liệu, học liệu số, nền tảng phục vụ đào tạo;

* Định kỳ rà soát, cập nhật chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển.

Cơ sở giáo dục cũng được tự chủ trong tuyển sinh, đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ, bao gồm việc quyết định quy mô, phương thức và tiêu chí tuyển sinh phù hợp với năng lực và yêu cầu bảo đảm chất lượng; tổ chức đào tạo theo các hình thức, phương thức phù hợp; công nhận kết quả học tập, chuyển đổi tín chỉ và triển khai các mô hình học tập linh hoạt phục vụ học tập suốt đời.

Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các trường đại học chủ động hơn trong việc xây dựng chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo và gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động.

3. Tự chủ trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Một nội dung đáng chú ý của Nghị định là việc xác lập quyền tự chủ của cơ sở giáo dục trong hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Cơ sở giáo dục có thể chủ động tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và triển khai các hoạt động chuyển đổi số theo quy định của pháp luật.

Đặc biệt, cơ sở giáo dục có thể triển khai “cơ chế thử nghiệm có kiểm soát” đối với các mô hình giáo dục số, công nghệ giáo dục, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Quy định này mở ra cơ sở pháp lý để các trường đại học mạnh dạn nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng những mô hình giáo dục, công nghệ mới, đồng thời phải bảo đảm tuân thủ pháp luật và các điều kiện của cơ chế thử nghiệm.

4. Tăng quyền tự chủ về tổ chức và nhân sự

Đối với cơ sở giáo dục công lập, Nghị định quy định quyền tự chủ về cơ cấu tổ chức và nhân sự, trong đó có việc:

* Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động;

* Quyết định cơ cấu tổ chức;

* Thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị thuộc, trực thuộc theo quy định;

* Quyết định vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong phạm vi đề án tự chủ, chiến lược phát triển đã được phê duyệt;

* Quyết định nhiều nội dung trong tuyển dụng, đánh giá, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý viên chức thuộc thẩm quyền;

* Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ khác đối với viên chức theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, quyền tự chủ về tổ chức và nhân sự luôn phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật có liên quan, đề án tự chủ, chiến lược phát triển và quy chế tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục. Cơ sở giáo dục đồng thời phải thực hiện công khai, báo cáo và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.

5. Tự chủ về tài chính, tài sản và đầu tư

Nghị định số 334/2026/NĐ-CP quy định cụ thể hơn về cơ chế tự chủ trong quản lý và sử dụng nguồn tài chính của cơ sở giáo dục công lập. Cơ sở giáo dục được quyết định việc sử dụng các nguồn tài chính theo quy định để phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển cơ sở vật chất trên cơ sở bảo đảm các quy định của pháp luật và quy chế nội bộ về đầu tư, tài chính, tài sản.

Các khoản chi có thể bao gồm:

* Tiền lương, tiền công, thu nhập tăng thêm, tiền thưởng và các khoản khuyến khích khác trên cơ sở vị trí việc làm và hiệu quả công việc;

* Cơ chế đãi ngộ để thu hút chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước;

* Chi hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ;

* Chi dịch vụ, quản lý, vận hành;

* Chi đầu tư, cải tạo, nâng cấp, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở vật chất;

* Mua sắm tài sản, trang thiết bị;

* Trả lãi vay đối với phần chi từ vốn vay hợp pháp;

* Các khoản chi hợp pháp khác theo quy định.

Các nội dung chi phải được cụ thể hóa về đối tượng, tiêu chuẩn, định mức và áp dụng thống nhất trong quy chế chi tiêu nội bộ của cơ sở giáo dục. Việc sử dụng ngân sách phải bảo đảm công khai, minh bạch, gắn với hiệu quả hoạt động, chất lượng đầu ra và tiến độ thực hiện nhiệm vụ được giao.

            Ngoài ra, cơ sở giáo dục chủ động huy động, tiếp nhận các nguồn lực hợp pháp trong và ngoài nước để đầu tư phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng số, học liệu số, phòng thí nghiệm chuyên sâu, trung tâm đổi mới sáng tạo, thư viện, và các dịch vụ hỗ trợ người học khác.

6. Tự chủ tài chính phải gắn với trách nhiệm và sự hỗ trợ của Nhà nước

Nghị định phân loại mức độ tự chủ tài chính đối với cơ sở giáo dục công lập theo các mức: 1. Tự bảo đảm chi thường xuyên; 2. Bảo đảm một phần chi thường xuyên; 3. Do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.

Việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực đào tạo, khả năng xã hội hóa, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực quốc gia và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Đáng chú ý, mức độ tự chủ tài chính không loại trừ trách nhiệm hỗ trợ của Nhà nước đối với những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược. Nhà nước vẫn thực hiện hỗ trợ, đầu tư, đặt hàng và giao nhiệm vụ đối với ngành, nghề trọng điểm, mũi nhọn, khoa học cơ bản, công nghệ cao, những ngành xã hội có nhu cầu nhưng khó tuyển sinh, đào tạo cho đối tượng chính sách và các nhiệm vụ phát triển quốc gia.

7. Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách và đặt hàng đào tạo

Nghị định quy định cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước theo hướng gắn nguồn lực với “sứ mạng, chất lượng và hiệu quả hoạt động” của cơ sở giáo dục.

Bên cạnh đó, Nhà nước thực hiện cơ chế hỗ trợ người học một số ngành, nghề, lĩnh vực; cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo theo kết quả đầu ra.

Định hướng này góp phần chuyển từ cách thức phân bổ nguồn lực chủ yếu dựa trên đầu vào sang việc chú trọng hơn đến kết quả và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ giáo dục, qua đó khuyến khích các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng.

Nghị định số 334/2026/NĐ-CP tạo khuôn khổ pháp lý mới cho việc tăng cường quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học trên nhiều phương diện: đào tạo; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tổ chức, nhân sự; tài chính, tài sản và đầu tư. Song bên cạnh đó, quyền tự chủ cũng cần được sử dụng để nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, hiệu quả quản trị, phát triển đội ngũ, thúc đẩy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người học.

            Phòng Pháp chế và Kiểm tra nội bộ