Quay trở lại danh sách
Tuyên truyền- phổ biến pháp luật

Luật Trí tuệ nhân tạo: Đánh dấu sự ra đời của hành lang pháp lý cho AI

09/03/2026

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XV đã thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/2/2026. Đây là đạo luật đầu tiên thiết lập một khuôn khổ pháp lý tương đối toàn diện cho hoạt động nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam.

Xác định nguyên tắc cơ bản lấy con người làm trung tâm, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền con người

Luật xác định rõ nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt trong hoạt động trí tuệ nhân tạo đó là lấy con người làm trung tâm; bảo đảm quyền con người, quyền riêng tư, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và an ninh quốc gia; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Trí tuệ nhân tạo đóng vai trò phục vụ con người, không thể thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của con người; đồng thời cần bảo đảm duy trì sự kiểm soát và khả năng can thiệp của con người đối với mọi quyết định và hành vi của hệ thống. Ngoài ra, khuyến khích thúc đẩy phát triển trí tuệ nhân tạo xanh, bao trùm và bền vững; phát triển các công nghệ trí tuệ nhân tạo theo hướng sử dụng hiệu quả năng lượng, tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động tiêu cực đến môi trường.

Luật nghiêm cấm việc phát triển, triển khai hoặc sử dụng AI để thao túng hành vi con người, xâm phạm quyền riêng tư, thu thập và xử lý dữ liệu trái pháp luật; tạo, phát tán thông tin giả, deepfake nhằm lừa đảo, bôi nhọ, xâm hại danh dự, nhân phẩm cá nhân; hoặc phục vụ các hành vi vi phạm pháp luật, đe dọa an ninh quốc gia.

AI phải được phân loại mức độ rủi ro

Luật quy định rõ hệ thống trí tuệ nhân tạo được phân theo theo ba mức độ rủi ro: thấp, trung bình và cao. Nhà cung cấp tự phân loại hệ thống trí tuệ nhân theo trước khi đưa vào sử dụng trên cơ sở các tiêu chí về mức độ tác động đến quyền con người, an toàn, an ninh; lĩnh vực sử dụng của hệ thống; phạm vi người sử dụng và quy mô ảnh hưởng của hệ thống.

Đối với hệ thống được phân loại là rủi ro trung bình hoặc rủi ro cao, nhà cung cấp phải thông báo kết quả phân loại cho Bộ Khoa học và Công nghệ trước khi đưa vào sử dụng. Nếu chưa xác định được mức độ rủi ro, nhà cung cấp được đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn về phân loại trên cơ sở hồ sơ kỹ thuật.

Từ việc phân loại mức độ rủi ro, hệ thống trí tuệ nhân tạo được kiểm tra, giám sát tương ứng với từng mức độ: đối với hệ thống có mức độ rủi ro cao được kiểm tra định kỳ hoặc khi có dấu hiệu vi phạm; đối với hệ thống có mức độ rủi ro trung bình được giám sát thông qua báo cáo, kiểm tra chọn mẫu hoặc đánh giá độc lập; đối với hệ thống có mức độ rủi ro thấp được theo dõi, kiểm tra khi có sự cố, phản ánh hoặc khi cần đảm bảo an toàn để không làm phát sinh nghĩa vụ không cần thiết.

Nội dung AI phải có dấu hiệu nhận biết

Luật Trí tuệ nhân tạo quy định các hệ thống trí tuệ nhân tạo tương tác trực tiếp với con người phải được thiết kế, vận hành để người sử dụng nhận biết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nhà cung cấp phải bảo đảm nội dung âm thanh, hình ảnh, video do hệ thống AI tạo ra được đánh dấu ở định dạng máy đọc theo quy định của Chính phủ.

Bên triển khai có trách nhiệm thông báo rõ ràng khi cung cấp ra công cộng văn bản, âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng AI nếu nội dung đó có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật.

Đối với nội dung nhằm mô phỏng, giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế, bên triển khai phải gắn nhãn dễ nhận biết để phân biệt với nội dung thật. Với tác phẩm điện ảnh, nghệ thuật hoặc sáng tạo, việc gắn nhãn được thực hiện theo phương thức phù hợp, bảo đảm không làm cản trở việc hiển thị, trình diễn hoặc thưởng thức tác phẩm.

Sử dụng AI hỗ trợ cho người nghiên cứu, phát triển

Luật Trí tuệ nhân tạo dành một chương cho việc phát triển hạ tầng và bảo đảm chủ quyền AI quốc gia. Trong đó, các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trí tuệ nhân tạo cốt lõi "được hưởng chính sách ưu đãi và hỗ trợ đặc thù theo quy định của pháp luật".

Để phát triển hệ sinh thái AI trong nước, luật nhấn mạnh tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực sẽ "được hưởng ưu đãi và hỗ trợ cao nhất" theo quy định pháp luật. Họ cũng được tạo điều kiện tiếp cận hạ tầng, dữ liệu và môi trường thử nghiệm phục vụ nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ AI; được hỗ trợ tham gia các chương trình đào tạo nhân lực, xúc tiến thương mại, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực trọng điểm. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng hỗ trợ về chi phí, đào tạo và kết nối thị trường phục vụ phát triển sản phẩm, dịch vụ trí tuệ nhân tạo. Các sản phẩm, dịch vụ trí tuệ nhân tạo trong nước cũng được nhà nước ưu tiên sử dụng, theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

Nhà nước sẽ thúc đẩy nghiên cứu, phát triển, hoàn thiện và ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo trong nước, đồng thời hỗ trợ tổ chức, cá nhân phát triển mô hình, thuật toán, phần mềm, phần cứng và công nghệ nền tảng. Các giải pháp tiết kiệm tài nguyên, dễ triển khai và phù hợp điều kiện Việt Nam sẽ được khuyến khích. Việc này được khẳng định nhằm phát triển năng lực nội sinh quốc gia và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo về trí tuệ nhân tạo; tăng cường hợp tác công tư để làm chủ công nghệ.

Tích hợp nội dung cơ bản về AI từ giáo dục phổ thông  

         Để phát triển nguồn nhân lực, luật quy định Nhà nước phát triển nguồn nhân lực trí tuệ nhân tạo theo hướng liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo, bảo đảm hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và quản lý trí tuệ nhân tạo.

Một trong những điều được nêu trong luật là tích hợp nội dung cơ bản về trí tuệ nhân tạo, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức công nghệ vào chương trình bắt buộc; khuyến khích hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu và sáng tạo trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học được khuyến khích xây dựng chương trình đào tạo về trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu và các chuyên ngành liên quan; khuyến khích hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và tổ chức quốc tế trong đào tạo, thực tập, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.

Ngoài ra, Nhà nước khuyến khích phát triển cụm liên kết trí tuệ nhân tạo giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức liên quan, theo mô hình kết hợp giữa không gian vật lý tập trung và mạng lưới liên kết số; hình thành các trung tâm của cụm liên kết tại khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, trung tâm đổi mới sáng tạo; thu hút tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ hoạt động của cụm liên kết, bao gồm phòng thí nghiệm, trung tâm thử nghiệm, kiểm định và các cơ sở hỗ trợ khác đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.

Trong bối cảnh nhiều quốc gia vẫn đang ở giai đoạn xây dựng khung chính sách hoặc ban hành hướng dẫn, việc Việt Nam thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo và đưa vào hiệu lực từ ngày 1/3 đưa nước ta trở thành một trong số ít quốc gia ban hành văn bản chính sách pháp luật chuyên biệt về trí tuệ nhân tạo ở cấp độ luật do Quốc hội thông qua. Đạo luật này không chỉ tạo nền tảng pháp lý cho phát triển công nghiệp AI, mà còn khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc làm chủ công nghệ mới, không đứng ngoài cuộc trong làn sóng trí tuệ nhân tạo toàn cầu./.

Phòng Pháp chế và Kiểm tra nội bộ