Quay trở lại danh sách
Pháp luật về quyền con người

Công ước uốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (ICESCR) năm 1966

06/02/2026

Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa là một trong hai nhóm quyền cơ bản được ghi nhận và bảo đảm trong luật pháp quốc tế và pháp luật của quốc gia. Các quyền này được ghi nhận ngay trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948, sau đó được cụ thể hóa tại một trong hai Công ước cơ bản nhất về nhân quyền là Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (tiếng Anh: International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights, viết tắt: ICESCR), được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966, có hiệu lực từ ngày 3 tháng 1 năm 1976. Cùng với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Công ước ICCPR) và Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 (gọi tắt là Tuyên ngôn UDHR), Công ước ICESCR trở thành một trong ba trụ cột của Bộ luật Nhân quyền quốc tế - nhóm văn kiện nền tảng cho sự hình thành và phát triển các tiêu chuẩn nhân quyền cơ bản trên thế giới.

         ICESCR gồm có Lời nói đầu và 31 điều, được chia làm 5 phần, cụ thể như sau:

         Lời nói đầu của Công ước gốm 7 đoạn, nêu rõ các bên tham gia vào công ước này đảm bảo các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cho công dân của mình, bao gồm quyền lao động, quyền về sức khoẻ, quyền được giáo dục và quyền có mức sống đầy đủ, trên cơ sở nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc về công nhận phẩm giá của con người, nêu lại nguồn gốc các quyền của con người bắt nguồn từ phẩm giá vốn có, công nhận rằng lý tưởng về con người tự do chỉ có thể đạt được nếu được hưởng các quyền kih tế, xã hội và văn hoá cũng như các quyền dân sự và chính trị. Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ các quyền và tự do của con người cũng như nghĩa vụ của mỗi cá nhân tuân thủ và thúc đẩy những quyền ấy.

         Phần 1 (Điều 1) ghi nhận quyền tự quyết của các dân tộc, bao gồm quyền “tự do quyết định thể chế chính trị”, phát triển đường lối phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá, cũng như quản lý và sử dụng tài nguyên của mình. Ngoài ra, Điều này còn ghi nhận quyền của các dân tộc không bị tước đoạt phương tiện sinh tồn của mình, cũng như nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải tôn trọng và thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết của các dân tộc.

         Phần 2 (Điều 2-5) thiết lập nguyên tắc “hiện thực hoá từng bước”, yêu cầu các quyền được công nhận mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, giàu nghèo, thành phần xuất thân. Các quyền chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, theo cách phù hợp với bản chất của quyền và chỉ nhằm mục đích thúc đẩy phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

         Phần 3 (Điều 6-15) liệt kê các quyền bao gồm: (i) Quyền được làm việc trong điều kiện công bằng và thuận lợi cùng với quyền thành lập và tham gia vào công đoàn; (ii) Quyền được hưởng an sinh xã hội, bao gồm bảo hiểm xã hội; (iii) Quyền đối với gia đình, bao gồm nghỉ thai sản có trả lương và bảo vệ trẻ em; (iv) Quyền được hưởng mức sống đầy đủ về lương thực, quần áo và nhà ở, cũng như quyền được không ngừng cải thiện điều kiện sống; (v) Quyền được đảm bảo về sức khoẻ, bao gồm sức khoẻ vật chất và tinh thần. (vi) Quyền về giáo dục, trong đó công nhận quyền được học tập và phổ cập giáo dục tiểu học miễn phí và bắt buộc, tiếp cận giáo dục trung học phổ thông và đại học công bằng.

         Phần 4 (Điều 16-25) quy định việc báo cáo và giám sát Công ước cũng như các bước mà các bên thực hiện để thực hiện Công ước, cho phép cơ quan giám sát – ban đầu là Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc - nay là Ủy ban về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa - đưa ra các khuyến nghị chung cho Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về các biện pháp thích hợp để hiện thực hóa các quyền (Điều 21).

         Phần 5 (Điều 26-31) quy định việc phê chuẩn, hiệu lực và sửa đổi Công ước.

Kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên Liên Hợp quốc (năm 1977) và gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (ICESCR) năm 1982, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện các nghĩa vụ của quốc gia thành viên của Công ước ICESCR. Việt Nam đã có những bước phát triển trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật, hàng trăm đạo luật đã được rà soát, xây dựng và hoàn thiện nhằm nội luật hoá nội dung của Công ước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tinh gọn bộ máy, để bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá ở nước ta, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành.

- Đối với quyền có việc làm và phát triển thị trường lao động và quyền được hưởng các chính sách an sinh xã hội, chúng ta đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề này. Điển hình như: Luật Việc làm năm 2013, Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (sửa đổi năm 2018), Bộ luật Lao động năm 2019… cùng hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành khác. Đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn 20 Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Gần đây, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước số 22 về chính sách việc làm, Công ước số 186 về Lao động hàng hải (ngày 08/5/2013) và Công ước số 187 về Khung chính sách thúc đẩy an toàn vệ sinh lao động (ngày 23/01/2014).

- Đối với quyền về văn hoá, đặc biệt đã chú trọng việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa, khuyến khích, cổ vũ tự do trong sáng tạo nghệ thuật. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về văn hóa từng bước được hoàn thiện, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa, điển hình như: Luật Di sản văn hóa năm 2024, Luật Quảng cáo năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Xuất bản năm 2012, Luật Thư viện năm 2019…

- Đối với các quyền về giáo dục: quyền giáo dục tại Việt Nam hiện này được thể hiện qua các khía cạnh chính, bao gồm quyền được tiếp cận giáo dục, quyền bình đẳng trong giáo dục, quyền lựa chọn hình thức học tập, quyền được bảo đảm chất lượng giáo dục. Điều này được cụ thể hoá trong Luật Giáo dục năm 2019, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Nhà giáo năm 2025, Luật Giáo dục đại học năm 2025, và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, phổ cập giáo dục.

- Đối với các quyền về kinh tế: Quyền sở hữu và quyền tự do kinh doanh đã được cụ thể hóa trong hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Đầu tư năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014… Từ đó cho thấy, Nhà nước ta luôn ưu đãi, khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho mọi người thực hiện quyền tự do kinh doanh.

Hơn 40 năm gia nhập Công ước, Việt Nam đã có những bước phát triển trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật, trong đó có pháp luật về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá để thực hiện nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ các quyền con người tại Việt Nam.

Phòng Pháp chế và Kiểm tra nội bộ