Pháp luật về quyền con người
Sự ra đời của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 (UDHR) - Nền tảng pháp lý đầu tiên về quyền con người
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) là văn kiện quốc tế đặt ra các quyền con người được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào ngày 10/12/1948 ở Cung Chaillot tại Paris, Pháp.
Tuyên ngôn đặt ra các quyền lợi và tự do cơ bản của mỗi cá nhân, theo đó tuyên bố “mọi người sinh ra tự do, bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi”, không phân biệt “chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc kiến giải khác, quốc tịch hoặc xuất thân xã hội, tài sản, xuất sinh hoặc thân phận khác”. Đây là văn kiện quan trọng trong lịch sử quyền con người bởi vì các quyền lợi, tự do của Tuyên ngôn là chung của loài người, không phân biệt văn hóa, chế độ chính trị hoặc tôn giáo.
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là nền tảng của luật quốc tế về nhân quyền, ví dụ như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Tuy không có hiệu lực pháp luật nhưng Tuyên ngôn này đã được đưa vào những điều ước quốc tế, văn kiện nhân quyền của các khu vực và hiến pháp, bộ luật quốc gia.
Tất cả 193 nước thành viên Liên Hợp Quốc đều đã phê chuẩn ít nhất 01 trong 09 điều ước quốc tế nhân quyền chịu ảnh hưởng của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, phần lớn đã phê chuẩn ít nhất 04 điều ước. Nhiều điều khoản của Tuyên ngôn đã được công nhận là tập quán quốc tế. Tuyên ngôn này đã được dịch ra 530 thứ tiếng, là văn kiện phổ quát nhất trong lịch sử và đã truyền cảm hứng và mở đường cho việc thông qua hơn 70 hiệp ước về nhân quyền, được áp dụng lâu dài ngày nay ở cấp độ toàn cầu và khu vực.
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền bao gồm Lời nói đầu và 30 điều quy định về các quyền và một điều quy định về bảo vệ Tuyên ngôn. Nội dung chủ yếu của Lời nói đầu là trình bày bối cảnh ra đời của Tuyên ngôn và ghi nhận các nguyên tắc quan trọng nhất trong việc bảo vệ quyền con người, đó là: thừa nhận các quyền bình đẳng và quyền tự do là nguyện vọng cao cả nhất của mỗi con người; quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật,... Mục tiêu cuối cùng của Tuyên ngôn là làm cho tất cả các cá nhân, các tổ chức xã hội, các quốc gia, dân tộc nỗ lực tôn trọng và thúc đẩy việc thực hiện các quyền con người, từ đó thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống của con người trong một môi trường tự do hơn.
Từ Điều 1 đến Điều 21, Tuyên ngôn đề cập đến nhóm quyền dân sự, chính trị mà con người phải được hưởng, gồm: quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân (Điều 3); quyền không bị làm nô lệ hoặc nô dịch (Điều 4); quyền không bị tra tấn, bị đối xử hay trừng phạt vô nhân đạo (Điều 5); quyền được thừa nhận tư cách một con người trước pháp luật (Điều 6); quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ (Điều 7); quyền được toà án bảo vệ khỏi những hành vi vi phạm quyền con người (Điều 8); quyền không bị bắt, giam giữ hay đầy ải vô cớ (Điều 9); quyền được xét xử công bằng và công khai trước một toà án độc lập, không thiên vị (Điều 10); quyền được pháp luật bảo vệ không bị can thiệp vào đời tư, gia đình, chỗ ở hoặc thư tín, không bị xâm hại danh dự hay uy tín cá nhân (Điều 12); quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 13); quyền tị nạn (Điều 14); quyền có quốc tịch (Điều 15); quyền tự do kết hôn và xây dựng gia đình(Điều 16); quyền sở hữu tài sản riêng (Điều 17); quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo (Điều 18); quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt (Điều 19); quyền tự do hội họp và lập hội (Điều 20); quyền tham gia quản lý đất nước và xã hội (Điều 21)
Từ Điều 22 đến Điều 27, Tuyên ngôn đề cập đến các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, bao gồm: quyền được bảo đảm an ninh xã hội (Điều 22); quyền làm việc và được trả lương ngang nhau cho những công việc như nhau, được trả lương xứng đáng và hợp lý để đảm bảo cho một cuộc sống có giá trị như một con người, được thành lập hoặc gia nhập công đoàn (Điều 23); quyền nghỉ ngơi, giải trí (Điều 24); quyền có một mức sống thích đáng và được bảo hiểm. Phụ nữ và trẻ em được giúp đỡ đặc biệt (Điều 25); quyền được học tập (Điều 26); quyền được tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng thức văn hoá, nghệ thuật, quyền được bảo hộ các lợi ích vật chất và tinh thần phát sinh từ các sáng tạo khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình (Điều 27).
Điều 28 của Tuyên ngôn ghi nhận: “Mọi người đều có quyền được bảo đảm có một trật tự xã hội (quốc gia) và quốc tế, trong đó các quyền tự do cơ bản nêu trong bản Tuyên ngôn có thể được thực hiện một cách đầy đủ”. Điều 29 của Tuyên ngôn đề cập tới nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng, theo đó: “Mỗi người có nghĩa vụ với cộng đồng, trong đó nhân cách của bản thân có thể được phát triển tự do và trọn vẹn... Những hạn chế đối với quyền và tự do được giải thích như sau: Các quyền và tự do cho cá nhân chỉ phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền và tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và sự phồn vinh chung trong một xã hội dân chủ...” Điều 30 của Tuyên ngôn khẳng định không một cá nhân hoặc Nhà nước nào được phép có những hành vi huỷ hoại Tuyên ngôn.
Mặc dù Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (UDHR) năm 1948 kông phải công ước có ràng buộc pháp lý, nhưng là văn kiện nền tảng của Liên Hợp Quốc. Trên cơ sở đó, hai công ước quốc tế quan trọng là Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR, 1966) và Công ước Quốc tế về Các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR, 1966) đã chuyển hóa các nguyên tắc của UDHR thành luật quốc tế có tính ràng buộc, được Liên Hợp Quốc thông qua thiết lập nên Bộ luật Quốc tế về Nhân quyền. Việt Nam (khi gia nhập LHQ năm 1977) đã cam kết tuân thủ các chuẩn mực trong UDHR. Đây là cơ sở để xây dựng, nội luật hoá chế định về quyền con người một cách toàn diện trong các bản Hiến pháp, văn bản pháp luật đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực và đảm bảo phù hợp với thực tiễn.
